TRÒ CHUYỆN VỚI THẦY HIỆU TRƯỞNG PHẠM HỒNG

Lượt xem:

Đọc bài viết

Ghi chép: Phạm Thị Kiều Oanh
                                        Tổ trưởng tổ Ngữ văn

Một ngày cuối tháng Tư, những vạt nắng vàng mật ong trải dài trên những tán cây xanh biếc, chùm phượng vĩ đầu tiên vừa hé nở như những kí ức khó quên về một mùa hè đáng nhớ của các cô cậu học trò lớp 12, tôi may mắn được tiếp chuyện với thầy trong một buổi giao lưu giữa các thế hệ giáo viên và học sinh trường THPT Mỹ Tho nhằm chuẩn bị cho lễ kỉ niệm 50 năm thành lập. Tôi mời thầy đi tham quan một vòng khuôn viên nhà trường. Trong khoảng không gian này, tôi cảm thấy khoảng cách giữa hai thế hệ đã bị xóa nhòa, bởi thầy và tôi cùng chung những dòng tâm sự về lịch sử phát triển của trường THPT Mỹ Tho thân yêu – nơi thầy đã trải qua những tháng năm tuổi trẻ, và giờ đây, cũng tại mảnh đất này, tôi đang mải miết viết tiếp những trang sách đẹp của cuộc đời mình…
Ngày tôi về trường, thầy đã chuyển sang công tác ở một lĩnh vực khác. Những thông tin về thầy tôi được nghe các thầy cô giáo thế hệ trước chúng tôi kể lại. Thầy Phạm Hồng tốt nghiệp khoa toán ĐH tổng hợp Lômônôxốp Liên Xô năm 1971, thầy được Bộ GD&ĐT phân công công tác giảng dạy ở trường ĐHSP khoa cấp II ở Phủ Lý do thầy Nguyễn Thế Tể làm chủ nhiệm. Hồi ấy ĐHSP Hà Nội có khoa cấp II, có khoa cấp III. Khoa cấp III thì ở Cầu Giấy – Hà Nội. Năm 1976 thầy được điều động giảng dạy ở trường cấp III Ý Yên A nay là trường THPT Tống Văn Trân. Năm 1977 thầy về làm hiệu phó trường cấp III Mỹ Tho. Từ năm 1981 đến năm 1988 thầy làm Hiệu trưởng nhà trường. Giai đoạn thầy làm Hiệu trưởng là giai đoạn khó khăn nhất của thời kỳ bao cấp, lương tốt nghiệp đại học mà không đủ đong gạo ăn. Tôi mở đầu cuộc trò chuyện với thầy bằng một câu hỏi khẽ:
– Thầy ơi! Tuổi thầy dễ đến…?
– Tôi tuổi Kỷ Mão! Thầy chậm rãi lên tiếng.
Như vậy thầy đã vào tuổi 80, tôi thoáng ngỡ ngàng… 80 tuổi – độ tuổi “xưa nay hiếm” nhưng khi kể về những năm tháng đã qua dưới mái trường này, thầy vẫn minh mẫn lạ thường. Nhìn sâu vào mắt thầy tôi cảm thấy khái niệm thời gian bỗng trở nên vô nghĩa. Những kỉ niệm không hề bị đóng kín bởi rêu phong kí ức  hay bị phủ mờ bởi lớp bụi của tháng năm… Những câu chuyện thầy kể vẫn tươi mới, sinh động như vừa mới diễn ra ngày hôm qua. Trong khoảnh khắc ấy, tôi chợt nhận ra rằng : tháng Tư giao mùa vốn dĩ rất đẹp vì nó còn là khoảng thời gian của hoài niệm, của nhớ thương… Với chất giọng trầm trầm, nhẹ nhàng, thầy kể:
– Cũng là vừa thực hiện Nghị định 16 giảm biên chế, để dành chỗ cho các giáo viên trẻ công tác, nhưng cũng là lương thấp không đủ ăn mà thầy Phạm Hằng – Hiệu phó nhà trường, thầy Hà Quang Thoại – Thư ký Công đoàn, thầy Đỗ Việt Ngữ môn tiếng Nga, thầy Cù Xuân Hiệp môn sinh, thầy Phạm Văn Cung môn toán ngoài 50 tuổi đã xin nghỉ hưu. Thậm chí thầy Hoàng Tiến Quang môn GDCD chưa đầy 50 tuổi cũng đã xin nghỉ. Thương cho các thầy Thoại, thầy Cung, thầy Hiệp chưa đến tuổi 60 đã đi vào cõi thiên cổ; thậm  chí thầy Cung còn chưa nhận sổ hưu kia…
Giọng thầy run run, thoáng nghẹn lại. Thầy bước đi chậm rãi về dãy nhà học khối 10. Trong phút giây lặng người bâng khuâng ấy, tôi biết thầy buồn vì “ cảnh còn người mất”, thầy nhớ đồng nghiệp từng một thời gắn bó. Tôi muốn chuyển sang chuyện khác, vui hơn:
– Em nghe thầy Khoán nói ngày xưa diện tích của trường mình hẹp lắm. Giới hạn phía Bắc và Nam thì thế rồi, nhưng phía Đông và Tây là chỉ đến trước cửa các dãy nhà học khối 10 và 11, đến chỗ này có phải không thầy ? Tôi chỉ về khu đất phía trước mặt mình.
– Đúng đấy. Nơi đây là sân bóng đá, từ trước năm 1940 kia. Phía Đông và Tây là 2 chiếc hồ Đông và Tây nhưng năm tháng hồ cứ nông dần lên, nhân dân làm ruộng cấy. Để cải thiện đời sống cho CB-GV có chút diện tích tăng gia và với ý nghĩa xây dựng mô hình V-A-C- vườn, ao, chuồng cho việc học tập thực hành của học sinh; tôi đã cùng Ban chi ủy, Ban giám hiệu xin địa phương xã Yên Chính, lúc ấy anh Đỗ Sĩ Lợi làm Bí thư đảng ủy, anh Nguyễn Văn Phong làm chủ tịch đồng ý ngay.
– Vậy bây giờ là diện tích trường ta có tới hơn 26.000 m2 cơ đấy thầy ạ!
– Nói chuyện bây giờ thì các em lại cười cho, là vì ngày ấy chúng tôi có tổ chức một hội nghị nhỏ, làm vài mâm cơm, “bóp” một con lợn con 26 cân hơi tiếp các anh lãnh đạo địa phương; thế là xong. Nhà trường đem mấy bụi hóp ra trồng để định gianh giới. Sau này  anh Khoán làm hiệu trưởng, rồi yêu cầu luật đất đai, mới làm sổ đỏ cho nhà trường. Thời ấy đất đai tập thể chuyển cho tập thể chỉ đơn giản vậy thôi. Thế mà có một vài người định kiện về chuyện “sát sinh”, giết lợn mà không xin phép, nghĩa là thịt lợn chui. Sau đó chắc họ nghĩ vì công việc chung, rồi thôi.
– Thầy ơi! Thế cái mô hình V-A-C thì thế nào thầy?
Ngừng một lát, tủm tỉm cười, tôi cùng thầy đã bước qua khu giáo dục thể chất của trường.
– Vườn thì ở trong sân  trường đấy. Trường chỉ để đủ sân tập trung cho học sinh thôi, còn lại trồng ngô, khoai, đỗ. Ao thì chỗ này đây, thầy chỉ vào khu vực giữa sân vận động, đào sâu làm ao, chiếc ao trường rộng đến 6 sào, đất thì đổ làm nền, xây nhà ở công vụ cho cán bộ giáo viên. Hồi ấy, thầy Phạm Hằng là hiệu phó phụ trách xây dựng cơ sở vật chất –lao động.
Chỗ mà thầy chỉ làm nhà công vụ bây giờ là nhà đa năng của nhà trường. Đây là nhà công vụ phía Đông, còn khu nhà công vụ phía Tây nữa -hiện bây giờ còn gia đình cô giáo Hằng, cô giáo Ngân đang ở.
– Còn mô hình “chuồng” thì thế nào hả thầy? – Tôi tò mò.
– Khó. Chuồng là nói chuyện nuôi lợn, mà nuôi ở trường là khó, tổ chức rất khó, buộc là mỗi thầy cô phải nuôi ở nhà thôi.
Thế là tôi đã hỏi khó thầy rồi. Thầy bảo, nói là V-A-C thôi, chứ người nông dân – lão nông chi điền còn chẳng ăn ai, chả là nhà giáo chúng mình. Thế là thầy kể chuyện đi sang lương thực Bo xin vài tấn thóc về cho anh em xay xát để lấy cám nuôi lợn, sang công ty thương nghiệp xin mấy tạ lạc về chia  cho anh em bóc thuê lấy công là phụ mà lấy hạt lép để làm thức ăn là chính. Lại còn chuyện đi vay lúa bác Liệu ở Lỗ Xá, Yên Hưng cho CB – GV nữa chứ.
– Thầy ơi! Em nghĩ thầy đi học đại học tổng hợp ở Liên Xô về, thầy lại làm hiệu trưởng, em nghĩ…thầy cũng phải…
– Cũng chứ! Có người có lần đã trò truyện với Giáo sư Văn Như Cương, bảo ông Giáo sư nuôi lợn, ông bảo: nói đúng là lợn nuôi Giáo sư. Nhà tôi cũng là nhà giáo, hồi ấy nhà tôi công tác ở phòng giáo dục huyện; chủ nhật là chúng tôi vác cào, cuốc lên trường để làm ruộng, làm vườn.
Dường như tôi đã khơi đúng mạch, thầy hào hứng: Hồi ấy, ngân  sách chi cho nhà trường chủ yếu là lương, chi cho hoạt động giáo dục vài phần trăm, còn cơ sở vật chất là zezo. Các thầy cô của nhà trường đi dạy bổ túc văn hóa cho công nhân xí nghiệp ngói Yên Tân, xí nghiệp gốm sứ Bảo Đài, gạch ngói Mai Thanh để đổi lấy ngói, gạch về xây một số lớp học còn thiếu và  nhà công vụ giáo viên. Tôi còn nhớ là thầy Bùi Xuân Đài dạy Toán, Văn là thầy Vũ Đức Hiển, Lý là thầy Trần Văn Nghĩa, Hóa là thầy Nguyễn Quốc Anh…Còn cái chuyện thầy Hà Quang Thoại, Nguyễn Hoài Nam xin giấy phép huyện vào tận Lang Chánh – Thanh Hóa mua luồng về để làm lại mái cho 16 lớp học nhà cấp 4 đã xuống cấp. Rồi hạ bạch đàn ở trường, lao động đào ao cho trại cá giống Ý Yên để lấy cây que làm vì kèo. Rồi chuyện thầy làm thợ. Thầy bảo: thợ mộc thì anh Tài kế toán, chú Thuấn bảo vệ, thợ xây thì thầy Ngữ, thầy Nghĩa. Thầy Khoán phụ trách một tổ, thầy Quang một tổ xây dựng. Nhân công thì lấy học sinh to khỏe cùng làm. Chỉ huy trưởng, chỉ huy phó là thầy Hằng bí thư chi bộ, thầy Thoại thư ký Công đoàn. Lo nhất là khâu an toàn. Hú vía, một lần em học sinh Vũ Văn Thọ người Yên Phương, trượt chân may mà em khỏe tay bám chắc vào chiếc xà ngang đu lên được. Bây giờ vì kèo mà anh Tài kế toán phạt mộc, dựng lên vẫn còn nguyên tại lớp học đầu tiên phía Đông Nam của trường đó.
Chúng tôi may mắn lớn lên khi đất nước đã đi qua thời kì khó khăn nhất. Thi vào trường Sư phạm, được đứng trên bục giảng là mơ ước của chúng tôi. Cho dù trí tưởng phong phú đến mức nào đi chăng nữa cũng ít ai hình dung được một thời kì “gian khổ nhưng vĩ đại” mà các thầy đã trải qua, đặt nền móng đầu tiên góp phần dựng nên một ngôi trường bề thế, khang trang như hiện tại. Tôi lại nhớ đến câu thơ của nhà thơ Hoàng Trung Thông “Bàn tay ta làm nên tất cả / Có sức người sỏi đá cũng thành cơm”. Câu chuyện thầy kể đã truyền cảm hứng cho tôi: xúc động, tự hào… và tôi nhất định sẽ lan tỏa niềm cảm hứng ấy đến với các em học sinh thân yêu của mình, để các em thêm trân trọng, yêu quý mái trường mà mình học tập, gắn bó . Tôi tiếp tục câu chuyện:
– Em còn nghe hồi ấy thầy trò đóng gạch, đốt lò xây nhà phải không thầy?
– Đấy, đấy! Lại còn chuyện ấy nữa. Trò thì đóng gạch tại trường, rồi tại ở nhà mang đến. Thầy thì tổ chức đốt gạch. Chủ lò gạch là thầy Hoàng Tiến Quang, thầy Trần Văn Nghĩa. Có thế mới đủ xây chứ.
– Thầy ơi! thầy cô đã thế thì các anh chị học sinh hồi ấy khổ lắm nhỉ ? tôi sốt ruột.
– Đấy, đấy! Lấy đâu ra sướng!
Thầy sôi nổi hơn! Tội nghiệp lắm! Thế hệ những năm 70- 80 bụng đói, cật rét, đi chân đất đến lớp. Thế nhưng chính thế hệ ấy rất thành đạt. Đúng là “đất nghèo nuôi những anh hùng”. Nhiều người đã trưởng thành trong các lĩnh vực xã hội: anh Phạm Xuân Cảnh, ở tập đoàn dầu khí, quê xã Yên Phương, anh Nguyễn Văn Dũng – Đại tá Công ty dược tổng cục hậu cần Quân đội xã Yên Trung, Lê Văn Tiến xã Yên Tân, thiếu tướng Hoàng Văn Dũng xã Yên Thành, thiếu tướng Phạm Hữu Lâm xã Yên Bình, đại tá Phạm Văn Nghị xã Yên Bình, đại tá Phạm Hồng Sơn, Đỗ Văn Trọng, Nguyễn Ngọc Huấn – Yên Chính, đại tá Bùi Trung Điển – Yên Phương, doanh nghiệp Đỗ Quý Mão Yên Trung, anh Nguyễn Ngọc Vinh Yên Chính…Xin lỗi tôi không nhớ nổi để mà  kể hết tên các anh chị ở thế hệ những năm đó, trước đó và sau này nữa.
– Thưa thầy! Không lầm thì em biết thầy mới nghỉ Hiệu trưởng trường THPT Ý Yên cách đây mấy năm? Tôi đã định chấm hết câu chuyện với thầy ở đây, song thế nào lại làm phiền thầy rồi.
– Dường như nó là cái duyên nghiệp của tôi. Cuối năm 1988, tôi đã xin phép UBND tỉnh và Sở GD&ĐT nghỉ chức hiệu trưởng, chuyển công tác về Bộ lao động thương  binh xã hội làm ở cục hợp tác lao động nước ngoài. Sau vài năm đi công tác ở nước ngoài, tôi về hưu. Năm 1998 tỉnh có chủ chương thành lập các trường  THPT dân lập; huyện cử anh Nguyễn Văn Độ -phó chủ tịch phụ trách văn hóa – giáo dục, ông Cù Ngọc Kỷ – chủ  tịch hội cựu chiến binh huyện mời xuống làm Hiệu trưởng trường THPT Dân lập Ý Yên. Chả là vì Hội cựu chiến binh đỡ đầu trường dân lập mà.
Và bây giờ trường THPT dân lập Ý Yên đã chuyển đổi thành trường tư thực THPT Ý Yên thuộc Tổng công ty Fecon do anh Phạm Việt Khoa con trai cả của thầy làm Chủ tịch hội đồng quản trị quản lý. Ngẫm câu các cụ nói “hổ phụ sinh hổ tử” quả không sai.
Tổng công ty Fecon là một doanh nghiệp lớn, đón nhận số đông con em nhân dân địa phương, đặc biệt là các em học sinh tốt nghiệp phổ thông của trường vào làm việc. Đơn vị cũng rất tâm đức đóng góp xây dựng cho quê hương thêm giàu đẹp và nhiều công trình phúc lợi có ý nghĩa xã hội lớn.
Con tàu thường khi về gần bến đỗ thì chuyển động chậm dần, thầy hiệu trưởng Phạm Hồng của chúng ta ở cái tuổi được nghỉ ngơi thì lại gồng mình tăng tốc. Ai bảo vạn sự khởi đầu không phải gian nan? Còn thầy Hiệu trưởng của chúng tôi là người được thử thách trong hoàn cảnh ấy và chiến thắng hoàn cảnh ấy.
– Chắc mấy năm nay thì thầy mới thực sự được nghỉ ngơi thầy nhỉ?
Thầy lại tủm tỉm cười, nụ cười hồn hậu, thầy bảo: “nghỉ chứ còn”. Vẫn đúng cái giọng mộc mạc Yên Phú quê mình. Tôi biết thầy rất vui. Tất cả nỗi buồn quá khứ đã lùi về dĩ vãng rất xa. Chỉ còn lại niềm vui của ông giáo già mãn nguyện đã một đời gắn bó với các thế hệ học trò, với mái trường quê hương than yêu!

                                                                               Tháng 5 năm 2018